01/01/2014, Duyệt bởi Trần Tam
Huấn Luyện Viên Viết

 

KHÍ CÔNG & VÕ HỌC

ỨNG DỤNG TRONG CUỘC SỐNG HÀNG NGÀY

Chúng ta hầu như ai cũng đã từng nghe nói đến KHÍ CÔNG, tôi cũng vậy, và tôi cũng từng mù tịt chẳng hiểu nó là cái gì??? Để hiểu rõ bản chất Khí Công, cũng như những ứng dụng của nó vảo đời sống thì bản thân tôi chưa từng được một người nào đó giải thích cho thỏa mãn.

Khi còn mù mờ về Khí Công, tôi cũng từng thắc mắc Khí Công là cái gì mà ứng dụng của nó siêu phàm vây ? Còn với Võ Thuật thì tôi nghe nói Nội Công, Khí  Công  là một cảnh giới thượng thừa về đạo dẫn khí để phát kình lực, một cảnh giới mà rất nhiều môn phái võ hướng tới, rất nhiều người luyện võ muốn đạt tới cảnh giới đó. Tôi còn nghe nói Khí Công góp phần hình thành nhân cách, phong thái con người, không phải tự nhiên mà có. Người ta thường hay nói : “Người Quân Tử phải thở ở gót chân”.

Thế là, với tất cả sự tò mò, mong muốn tìm hiểu về KHÍ CÔNG cùng với ước muốn nếu có điều kiện sẽ theo học tập hoặc luyện tập KHÍ CÔNG hoặc ít ra là những môn nào đó có liên quan đến KHÍ CÔNG đã thôi thúc tôi sưu tầm tư liệu để nghiên cứu nhằm tự giải đáp cho mình về KHÍ CÔNG.

Qua bài viết này, tôi mong muốn chia sẻ với các bạn- những người cũng muốn tìm hiểu về KHÍ CÔNG như tôi- chút ít những kiến thức hạn hẹp mà tôi biết được về KHÍ CÔNG và những ứng dụng tuyệt vời của nó trong rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống cũng như trong VÕ HỌC.

Với riêng tôi, tôi tin chắc rằng KHÍ CÔNG sẽ mãi mãi là một đề tài hấp dẫn và còn nhiều bí ẩn mà con người sẽ tiếp tục nghiên cứu cũng như áp dụng nó vào nhiều lĩnh vực của đời sống.

hinhkhicong

Vậy bản chất của KHÍ CÔNG là gì ?

Nói cho dễ hiểu KHÍ CÔNG là một phương pháp luyện tập có thật, không phải mê tín hay dị đoan, một phương pháp luyện khí. Khí là một chất vô hình mà khoa học cho tới ngày nay chưa xác định được bản chất, mà chỉ phát hiện được những hiện tượng của nó. Khí có trong khắp vũ trụ và trong con người, mà các học giả Tây Âu gọi là năng lượng sinh tồn. Thật ra năng lượng chỉ là biểu hiện của Khí, cũng như ion và tia hồng ngoại đã có một số học giả cho là Khí.Thực tế cho thấy, con người có khả năng thu hút ngoại khí (tức khí ngoài trời và trong lòng đất) và tăng cường nội khí để tạo sức khỏe, bảo vệ cơ thể phòng và trị bệnh. Tuy nhiên, để đạt được khả năng này con người phải luyện thu khí và vận khí trên cơ sở khoa học- một công việc đòi hỏi nhiều thời gian và sự cố gắng liên tục, gọi là Công Phu- vậy nói nôm na, KHÍ CÔNG LÀ CÔNG PHU LUYỆN KHÍ. Để lý giải tại sao một môn luyện tập hay như vậy mà lại không phát triển sâu rộng thì truy nguyên về nguồn gốc KHÍ CÔNG sẽ thấy.

KHÍ CÔNG đã có ở Trung Quốc hàng 5.000 năm trước nhưng không được phổ biến rộng rãi, và chỉ được truyền đạt trong khuôn viên các chùa và võ đường. Ngay cả trong thế kỷ 21 này, những bậc thầy về khí công cũng chỉ truyền đạt cho con trai của họ hoặc một số người thân tín mà thôi. Do vậy, đã có một  thời gian KHÍ CÔNG được coi như một môn luyện tập thần bí. Ngoài ra, một phần vì khí công khó học, khó luyện tập; mà tập sai không những không kết quả mà có khi còn có hại, cho nên khí công càng khó phát triển sâu rộng.

HOÀNG ĐẾ NỘI KINH, bộ sách nổi tiếng của Trung Quốc vận dụng quy luật âm dương vào y học (mang tên vị vua tên HOÀNG ĐẾ, một thủy tổ của Trung Quốc sống cách nay gần 5.000 năm) có viết : “ Âm dương là đạo của trời đất, là đầu mối của muôn vật, là cha mẹ của sự biến hóa, là nguổn gốc của sự sinh sản, là cái kho chứa mọi sự thần minh”. Sách HOÀNG ĐẾ NỘI KINH đề cập tới KHÍ dưới nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có nghĩa là chức năng của tạng phủ, còn chương bàn về Kinh Mạch Bệnh là nói về lợi ích của KHÍ CÔNG.

Gần đây người ta tìm thấy di tích chú khảo trên đồng đen; năm 1979 tìm được sách bằng lụa (thời Tây Hán- 168 TCN) trên có hình mô tả các động tác thể dục trị bệnh kết hợp hơi thở (động công).

Thực tế từ xưa tới nay ngưới ta đã biết ứng dụng KHÍ CÔNG vào rất nhiều lĩnh vực và gặt hái nhiều kết quả huyền diệu từ rèn luyện sức khỏe phòng trị bệnh, ứng dụng rèn luyện thân tâm trong tu tập, trong võ học v.v. và có thể phân chia thành 5 trường phái ứng dụng khí công chính là : trường phái Lão Học, trường phái Khổng Học, trường phái Phật Học, trường phái Y Học, trường phái Võ Thuật.

Tìm hiểu từng trường phái ứng dụng Khi Công chúng ta sẽ thấy ứng dụng kỳ diệu của nó trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống.

1 .Trường Phái Lão Học (Lão Tử 604-511 TCN, Lão Tử sống cùng thời với Khổng Tử).

Lão Tử lập ra Đạo Nhiếp Sinh (tức trường sinh bất tử để thoát khỏi tuần hoàn của vũ trụ và sớm trở về với hư vô tức là Đạo)

Đạo Nhiếp Sinh của Lão Tử dựa trên thuật luyện đan- là luyện ba huyệt đan điền trên cơ thể : ĐAN ĐIỀN TINH, ĐAN ĐIỀN KHÍ và ĐAN ĐIỀN THẦN. (Thượng - Trung - Hạ)

Bí quyết của phương pháp luyện TINH, KHÍ, THẦN  là lấy Tâm Pháp diệt ái dục để TINH đầy đủ, rồi từ đó KHÍ sung mãn và THẦN vững vàng, THẦN không còn dao động sẽ hòa đồng với vũ trụ.

Những người nối nghiệp Lão Tử phải kể đến Trang Tử (300- 295 TCN), với cuốn sách NAM HOA KINH. Trang Tử nói : “ con người thật phải thở đến gót chân” ( ý nói phải biết thu hút khí và thoát khí từ bàn chân).

2.Trường phái Khổng Học

Khổng Tử ( khoảng 500 năm TCN),lập ra Thuyết Nhân Nghĩa và Đạo Trung Dung ( Trung Dung Chi Đạo) trong xử thế.

Về Khí Công, theo trường phái Khổng Học thì người luyện tập phải làm chủ được tư tưởng và có đức độ. Một số thi sĩ nổi tiếng sau này như Lý Thái Bạch, Tô Đông Pha, Bạch Cư Dị, Thân Tôn Trung cũng lấy Khí Công để rèn luyện tâm trí.

hinhkhicong 3

 

3. Trường phái Phật Học

Đạo Phật nhấn mạnh mọi người chúng ta đều có Phật Tánh. Đó là tánh rỗng lặng, rộng lớn, không sanh cũng không diệt, trong đó có 3 nguồn năng lượng tỏa sáng đời người : 1.năng lượng của sự thấy biết rõ ràng, 2. Tình yêu thương trong sáng, 3.Niềm an vui kỳ diệu.

Thực hành đạo Phật là thực hành một phương pháp để chúng ta trở về với tâm rỗng lặng hay tịch diệt; và từ sự vắng lặng này mà niềm an vui tự nhiên bừng dậy, Tâm trong sáng, rộng lớn tỏa chiếu, bình an, vắng lặng ( hay tịch), đồng thời các yếu tố tạo ra đau khổ không còn ( bị diệt). Lúc đó chỉ còn niềm hạnh phúc bao la, nên nói “ Tịch Diệt là niềm hạnh phúc kỳ diệu” ( TỊCH DIỆT VI LẠC), hay NIẾT BÀN.

Một phương pháp để đạt được mục tiêu trên đây là QUÁN NIỆM (gần giống DHYANA YOGA), thiền định và bát nhã vô niệm.

Ở Trung Quốc, đời nhà Lương, Đạt Ma Sư Tổ ( 525 TCN) từ Ấn Độ sang Trung Quốc, đã soạn ra Dịch Cân Kinh và phái Thiếu Lâm Tự nổi tiếng đến ngày nay, đồng thời Ngài cũng phổ biến phương pháp Thiền. Thiền là phương pháp mà chính Đức Phật đã học và thực hành, và trong suốt 45 năm hành đạo Đức Phật đã nói đến pháp Thiền ( Như Lai Thiền) trên 20 lần trong các Kinh Điển vẫn còn lưu truyền đến ngày nay.Và lúc nhập Niết Bàn Đức Phật cũng dùng phương pháp Thiền này.

Khí Công Tâm Pháp là một phương pháp ứng dụng toàn diện của Thiền Phật Giáo phối hợp với Khí Công, Yoga và các động tác buông lỏng thư thái, là một nghệ thuật huấn luyện Thân Tâm nhằm giúp người tập nhận diện được hạnh phúc sẵn có và các hạnh phúc tích cực từ sừ luyện tập, nhờ dó mà Tâm người thực tập trở nên rỗng lặng, nhẹ nhàng, buông lỏng thư thái và vô chấp. kết quả là nỗi khổ, niềm đau được rũ bỏ. Phương pháp này không chỉ dành riêng cho những người tu hành, mà mọi người thuộc mọi giới, mọi tôn giáo đều có thể ứng dụng.

THIỀN ngày nay rất được phương Tây ưa chuộng. Hiện nay có rất nhiều tổ chức tại các nước phương Tây hướng dẫn Thiền để phát triển sức khỏe và đời sống an vui. Trong đó phải kể đến tổ chức THIỀN CHÁNH NIỆM GIẢM CĂNG THẲNG ( Mindfullness –Based Stress Reduction- viết tắt là MBSR), do Tiến Sĩ John Kabat Zinn thuộc Viện Đại Học y Khoa Tiểu Bang Massachusetts, Umass Medical School thành lập gần 30 năm nay.

Trong cuốn sách Beyond The Relaxation Response, Bác sĩ Herbert Benson có trình bày về kết quả nghiên cứu của Phái Đoàn Y Khoa về Tam Muội Hỏa hay Summo, là một trong sáu phép thần thông của các vị Thiền Sư tây Tạng. Các Thiền Sư ngồi trên tuyết vào một ngày giá buốt tại vùng núi Hymalayas và có khả năng làm cho da của họ tăng lên 15 độ F ( khoảng 9,4 độ C).

Nhiều cuộc nghiên cứu sau đó, họ lại đến những nơi lạnh hơn và các vị Thiền Sư Tây Tạng ngồi Thiền liên tục 8 giờ đồng hồ ngoài trời lạnh buốt dưới 0 độ Farenheit ( gần – 18 độ C) mà không động đậy, hoặc có thể làm cho thân thể phát ra sức nóng do các vùng “CHÂN KHÍ” hay Khí chuyển động nơi các đường kinh mạch làm cho những tấm khăn nhúng nước đắp lên người họ bốc lên thành hơi và khô đi.

Điều quan trọng trong khi thực hành Tam Muội Hỏa, các vị Thiền Sư đã đi vào trạng thái Đại Lạc, niềm an vui vô cùng mà Thiền gọi là Hỷ Lạc, Tịnh Độ Tông gọi là Cực Lạc, do sự “đốt cháy” hay tiêu trừ mọi cội gốc của nghiệp chướng hay các trở ngại trong tâm như Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Tà Kiến. Thân và Tâm các ngài trong trạng thái buông xả tuyệt đối, người ta ghi nhận mức độ thở giảm xuống rất nhiều, có ngài chỉ thở 6 hơi thở trong một phút; và mức độ chuyển hóa năng lượng giảm còn 64%.

Nhờ những nghiên cứu như vậy, người ta hiểu rỏ lợi ích của Thiền và áp dụng vào việc hổ trợ phòng và tri bệnh rất hữu hiệu.

4.Trường phái Y Học

Ứng dụng Khí Công trong Y Học phải nói đến Trung Quốc.

Điển hình là phương pháp Nội Thị Công Phu dùng chữa bệnh. Phương pháp này bằng nội quan tự nhận xét những biến động trong cơ thể trong mối tương quan với ngoại cảnh. Qua phương pháp này người ta khám phá ra Khí, khí trong cơ thể cũng như ở ngoài cơ thể, rồi dựa vào Kinh Dịch và thuyết Âm Dương quân bình với thuyết ngũ hành tương sinh, tương khắc mà xây dựng Khí Công trong điều trị.

Trung Quốc còn có Thuật Châm Cứu để trị bệnh đặc trưng của Y Học Trung Quốc được Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) công nhận.

Trong khoa châm cứu người ta châm vào các huyệt để thông các đường kinh mạch và để làm cho chức năng của 12 bộ phận lục phủ và lục tạng được tốt đẹp. Còn trong Khí Công, người ta làm thông các đường vận hành chân khí hoặc thông qua các cách hít, nín rồi đẩy hơi hay vận khí đến các tạng phủ liên hệ cùng với các thế tập đặc biệt theo chu kỳ ngũ hành tương sinh : Thổ -  Kim – Thủy – Mộc – Hỏa – Thổ.

Ngoài ra, ở Trung Quốc còn ứng dụng Khí Công qua Kinh Lạc để làm nên một phương pháp dưỡng sinh,phòng và trị bệnh rất hiệu quả. Y Sư Thái Hồng Quang, người Quảng Châu Trung Quốc, hiện là Chủ Tịch Hội Nghiên Cứu Sức khỏe Kinh Lạc Quốc Tế Hồng Kong, chủ nhiệm Ủy Ban Chuyên Nghiệp về Điểm Huyệt Kinh Lạc tỉnh Quảng Đông nổi tiếng chữa bệnh bằng Trung Y tác giả cuốn Cẩm Nang Dưỡng Sinh Thông Kinh Lạc là một ứng dụng rất đơn giản và hiệu quả kinh lạc trong dưỡng sinh và trị bệnh.

hinhkhicong 1

Tổ sư Trương Tam Phong

5. Trường phái Võ Thuật

Nói tới Khí Công trong võ thuật người ta nghĩ ngay đến Võ phái Thiếu Lâm và Thái Cực Quyền - Võ Đang (Nam thiếu lâm – Bắc võ đang).

Võ Thiếu Lâm xuất phát từ Dịch Cân Kinh của Đạt Ma Sư Tổ. Cũng từ Dịch Cân Kinh mà có Ngũ Cầm Hí và Thiết Bố Sam. Thiết Bố Sam là phương pháp luyện thân thể thành mình đồng da sắt.

Cơ thể chúng ta có ba lớp : lớp nội tạng, lớp cân -gân -cốt, và lớp cơ được da bao bọc. Cân bao bọc các cơ quan như tim có tâm bào, có công dụng che chở, nuôi dưỡng, tái sinh. Thiết Bố Sam là phương pháp luyện tập để phat triển và vận khí trong cân, trong gân cốt. Luyện tập nội công, khí công còn có tác dụng tái sinh tủy xương và từ đó sinh ra hồng huyết cầu. Đối với Tạng Phủ, để phát triển tối đa khí trong cân thì nên tâp theo giờ vận hành của các đường kinh liên hệ với các Tạng Phủ đó.

Thái Cực Quyền của Trương Tam Phong là sự kết hợp chặt chẽ giữa Khí Công và các động tác mà căn bản quy luật biến động của âm dương trong Thái Cực Đồ. Thái Cực Quyền có nhiều chiêu thức, khoảng 108 thế và được giữ bí mật. Đến thế kỷ 19 , Dương Lộ Thiên (học trò của Trần Phương Hưng) mới phổ biến ra bên ngoài. Sau này, Ngô Giảm Tuyến lập ra một phái riêng ( Ngô Phái) thịnh hành ở Hồng Kong, Singapore, Mã Lai. Dương Trừng Phủ lập ra Dương Gia Thái Cực Quyền ( tức TAI CHI) rất được ưa chuộng ở Châu Âu và Bắc Mỹ.

Tướng Nhạc Phi ở triều đại Nam Tống cũng đã lập ra nhiều phương pháp rút tỉa từ Dịch Cân Kinh của Đạt Ma Sư Tổ như Bát Đoạn Cẩm. Ngoài ra, thời đó còn có phái Nga My tại vùng Tứ Xuyên với Hổ Bộ Công và Thập Nhị Thế.

Ở Nhật, có môn võ Aikido, tức Hiệp Khí Đạo, do Tổ Sư Morihei Uyeshiba sáng lập. Trong tiếng Nhật, Ki nghĩa là Khí. Kỹ thuật của Aikido, ngoài kỹ thuật di chuyển theo vòng tròn ( gọi là Tenkan) việc dẫn khí để khoáng trương lực sử dụng trong các đòn thể để hóa giải tất cả các đòn tấn công của một hoặc nhiều đối thủ đã tạo nên một đặc trưng cho Aikido- một môn võ tự vệ cực kỳ hiệu quả mà không làm sát thương đối phương, dù đối phương mạnh đến nhường nào, đông như thế nào. Tuy nhiên, chỉ những bậc thầy Aikido mới luyện được ki (khí) đễ có thể thi triển võ công. Một trong những dẫn chứng rõ nhất và phổ biến nhất về khoáng trương lực do việc dẫn khí bằng tư tưởng là ví dụ về “ cánh tay không thể bị bẻ gập” mà bất cứ người nào biết về Aikido đều biết.

Về việc ứng dụng Khí Công trong võ thuật để tấn công thì có thể kể một số phương pháp sau đây:

a.Điểm huyệt:

Cơ thể con người có tất cả 108 huyệt mà có thể dựa vào đó để đánh bại đối phương. Trong đó có 36 huyệt chính và 12 huyệt trọng yếu mà nếu điển mạnh có thể gây tổn thương, hoặc đánh đúng giờ vận chuyển của kinh mạch liên hệ thì có thể gây tử vong. Ví du huyệt Thái Dương, liên hê với Kinh Vị, vào giờ Thìn (7 giờ đến 9 giờ).

Điểm huyệt có nhiều tác dụng:

-Làm bế khí và tổn thương cho cơ quan liên hệ . Ví dụ : đánh mạnh vào nách gây bế tắc khí của Kinh Tâm, làm tổn thương tim.

-Làm bế khí và bế huyết; Khí bị bế tắc, huyết mạch sẽ co thắt hay vỡ. Ví dụ : đánh mạnh vào thái dương, gây sốc cho não, nêu đánh nhẹ thì làm đối phương ngất xỉu.

-Làm tổn thương một cơ quan. Ví dụ : đánh mạnh vào vùng gan có thể làm vở gan.

-Làm khí đình trệ tại một vùng của cơ thể và gây tổn thương nặng dần. Ví dụ: đánh mạnh vào các huyệt của Đốc Mạch có thể làm giảm chức năng của các cơ quan liên hệ.

Một số huyệt khi bi chấn thương chỉ làm tê liệt vùng liên hệ (như huyệt Thiếu Hải ở trong khớp khuỷu tay).

b.Bế mạch:

Bế mạch là một loại điểm huyệt bằng cách đánh mạnh hay bóp chặt vào một số huyệt ở cổ, gần động mạch cảnh, làm máu không lên não được và đối thủ bị ngất; còn ấn nhẹ vào vùng này làm đối phương bị ngủ.

c.Bế tức.

Bế tức làm cho đối phương không thở được và bị ngất xỉu. Bóp chặt hay đánh mạnh vào vùng yết hầu; đánh mạnh vào một số huyệt ở vùng dưới núm vú, vùng dạ dày cũng làm đối phương không thở được và ngất xỉu.

hinhkhicong 2

 

Hệ thống hóa các phương pháp Khí Công:

Người ta ước tính c\ó khoảng 2000 phương pháp luyện tập Khí Công, và có thể hệ thống hóa thành Nội Đan Khí Công và Ngoại Đan Khí Công. Nhưng thật ra ranh giới phân biệt giữa hai loại này cũng không hoàn toàn khép kín ; và có những trường phái luyện tập cả hai.

Ngoại Đan Khí Công lại có Ngoại Đan Động và Ngoại Đan Tĩnh. Người ta cho rằng Võ thuật Thiếu Lâm thuộc ngoại đan khí công.

Nội Đan Khí Công chủ trương tụ khí vào Đan Điền rồi dùng ý vận khí vào các kinh mạch hay tới một vùng nào đó của cơ thể. Điển hình là luyện Tiểu Chu Thiên và Đại Chu Thiên.

Trường phái Khí Công Lão Học và Phật Học thuộc về Ngoại Đan Khí Công. Thái Cực Quyền Trương Tam Phong có gốc là Nội Đan Khí Công Đạo Giáo.

Trên đây là những lợi ích cực kỳ to lớm của Khí Công; tuy nhiên, nếu luyện tập không đúng phương pháp thì cũng gây hại không ít. Dưới đây là những hiệu ứng của Khí Công, là do tập sai hay nóng lòng đốt giai đoạn, hoặc sau buổi tập không xả đúng quy tắc để tích tụ quá nhiều CO2 sẽ gây ra những rối loạn trong cơ thể :

- Rối loạn cơ bắp (chuột rút, vọp bẻ)

- Rối loạn tiêu hóa, gồm : Khô miệng, khô cổ họng; đau bụng ăn mất ngon.

- Rối loạn hô hấp (khó thở, suyễn, kéo cò...)

- Rối loạn thần kinh, như : chóng mặt, nhức đầu, mất ngủ.

- Rối loạn tim mach, như : mạch nhanh, tăng huyết áp.

- Rối loạn tổng thể.

Xem ra môn nào cũng vậy, tập đúng phương pháp thì gặt hái kết quả, còn tập sai thì gây hại có khi không ít. Cho nên, nếu chúng ta thật sự đam mê luyện tập bất cứ môn gì, kể cả các môn có nội công, khí công chúng ta nên tìm đến nơi có thầy hướng dẫn để việc luyện tập gặt hái kết quả, để không phải mất thời gian và công sức một cách vô ích.

Riêng tôi, nhờ tìm hiểu kỹ lưỡng về Khí Công, những ứng dụng thần kỳ của Khí Công vào nhiều lĩnh vực của đời sống cũng như trong võ thuật, nên khi tham gia luyện tập võ thuật kết hợp luyện tập nội công, khí công. Tôi có nhiều điều kiện hiểu rõ hơn công dụng của những động tác, tư thế luyện tập nhờ đó mà tôi rất yên tâm luyện tập cũng như hiểu rõ công dụng của những động tác, tư thế mà mình luyện tập.

Ví dụ như trong phần tập luyện Dịch Cân Kinh của môn phái Thiếu Lâm Nội Gia Quyền

-Phần luyện Dịch Cân Kinh, có thế LƯỠNG THỦ KÌNH THIÊN LÝ TAM TIÊU, thì tôi hiểu hai tay nâng vòm trời điều hòa Tam Tiêu. Mà theo kinh lạc mạch thì Tam Tiêu  gồm Thượng Tiêu, Trung Tiêu và Hạ Tiêu. Tim, Phổi ở khoang ngực thuộc Thượng Tiêu; lá lách, dạ dày, gan, mật ở giữa ngực và rốn thuộc trung tiêu; còn Đại Tràng, Ruột non, Thận, Bàng Quang ở phía dưới rốn thuộc Hạ Tiêu. Tam Tiêu như một “hệ thống màng’ kiểm soát nội tiết tố của cơ thể; nếu nội tiết tố của cơ thể mất cân bằng thì các cơ quan sẽ bị ảnh hưởng, khiến sức khỏe suy yếu.  

- Hay như  chiêu thức tả hữu phục hổ giống tư thế bắn cung: tăng cường  chức năng Phế và Đới Mạch ( Phế là Phổi); Hoặc tư thế chiết cung, điếu vĩ cúi thấp người và úp bàn tay xuống đất kích thích Thận.

Nếu các bạn cũng yêu thích luyện tập Nội Công, Khí Công với Võ Thuật thì xin mời các bạn hãy đến tập với tôi, Môn Phái Thiếu Lâm Nội Gia Quyền. Môn Phái hiện do Võ Sư Trần Tam – hiện là Trưởng Tràng Môn Phái trực tiếp giảng dạy, tiếp tục phát triển Môn Phái do Cố Chưởng Môn Võ Sư Trần Tiến được nhiều người biết đến là một Võ Sư từng thượng đài khắp trong nước và nhiều Quốc Gia Đông Nam Á và bất khả chiến bại.

Thiếu Lâm Nội Gia Quyền là môn phái chuyên luyện Công Phu Nội Công- Ngoại Công- Ngạnh Kình- Binh Khí với những đòn thế hiểm hóc được tinh chọn bởi võ sư Chưởng Môn.

Gần đây mình mới có cơ duyên đến học môn võ này nhưng mình thật sự bị cuốn hút với những gì mình được luyện tập, đó thật sự là công phu, khí công ứng dụng vào võ học và được biên soạn lại một cách khoa học bởi thầy Trần Tam.

Ngay ngày đầu tiên gặp thầy, mình thật sự khâm phục với câu nói chân tình và không kém phần thẳng thắn của Thầy : “  Dạy võ đừng vì mục đích kiếm sống, cũng đừng vì danh; mà dạy võ vì đam mê” Thầy còn thêm: “ Bản thân thầy hằng ngày làm đủ nghề để mưu sinh, còn chiều lên lớp dạy là vì đam mê, thầy cũng không quảng cáo vì theo thầy thì hữu xạ tự nhiên hương”.

Mà quả thật như vậy.

Trong thời đại xuống cấp giáo dục như hiện nay, khi mà người ta nhiều người dạy võ vì  danh và lợi nhiều hơn là đam mê, thì mới thấy thấm thía và quý biết bao câu nói của Thầy Trần Tam, như là tâm huyết mà cũng như phương châm.

Còn Giáo Án và Phương pháp luyện tâp thì khá phong phú và có khoa học, từ phần khởi động kết hợp nhiều động tác luyện tập toàn thân, yoga, nội công , khí công  như : Dịch Cân Kinh, Hổ Hình Công Pháp v.v. được sắp xếp luyện tập hàng ngày theo nguyên lý ngũ hành, một ngày luyện dương,một ngày luyện âm. Ngoài phần thực hành, vào giờ giải lao hoặc đầu giờ, cuối buổi mà có thời gian Thầy giảng giải thêm rất nhiều những kiến thức về võ học cho môn sinh. Thầy còn chọn lọc cho từng môn sinh các bài tập và cách thức luyện tập phù hợp với thể chất cũng như tính cách của từng môn sinh nhằm đạt được thành quả mà không làm ảnh hưởng đến thể trạng của mỗi người. Ví dụ như : một người lương y, luật sư hay một thư sinh nho nhã không nên luyện tập nhiều ngoại công sẽ làm tay chân thô kệch như nông dân, mà nên đi sâu chuyện luyện nội công, nhuyễn công ; vì nếu lương y mà tay chai sần như dùi đục thì làm sao bắt mạch ( trích lời Thầy).

Tôi dám khẳng định một điều : nếu các bạn đam mê võ thuật thì bạn hãy đến trường tiểu học Phạm Ngọc Thạch số 175 đường Đặng Văn Ngữ, P.10, Q. Phú Nhuận, tôi  sẽ bảo đảm các bạn sẽ không mất thời giờ và công sức một cách vô ích. Thật đấy, chắc chắn đúng, không sai!!!

BÀNG MẠCH LAM (THANH ĐAI - VÕ ĐƯỜNG Phạm Ngọc Thạch)

Liên Kết Từ Khóa

LIÊN HỆ GHI DANH

VÕ SƯ. NGUYỄN HÙNG PHƯƠNG: 0909 257 184 - 0909 457 184

LỚP SÁNG: 2 - 4 - 6 / 06H - 07H30 CLB TDTT SỐ 02 HỒ XUÂN HƯƠNG, P6, Q3
LỚP TỐI: 2 - 4 - 6 / 18H30 - 20H TRƯỜNG TIỂU HỌC PHẠM NGỌC THẠCH SỐ 175 ĐẶNG VĂN NGỮ, P14, Q PHÚ NHUẬN.
LỚP TỐI: 3 - 5 - 7 / 18H30 - 20H TRƯỜNG TIỂU HỌC PHẠM NGỌC THẠCH SỐ 175 ĐẶNG VĂN NGỮ, P14, Q PHÚ NHUẬN.